"Muốn có tác phẩm hay, mang hơi thở cuộc sống, người nghệ sĩ không thể ngồi trong phòng kín mà sáng tác được" - Trần Chung
Nhiều ca khúc của ông được chọn làm nhạc hiệu của đài khắp các miền đất nước: Mùa xuân trên thành phố dệt - Nam Định, Qua cầu sông Thương - Bắc Ninh, Khúc ca Hà Sơn Bình - Hà Tây, Đêm Trường Sơn nhớ Bác phổ thơ Nguyễn Trung Thu Bài ca Trường Sơn -phổ thơ Gia Dũng; Chiều biên giới, Tiếng gọi sông Đà, Mùa xuân đến rồi đó. Tình yêu nông trường...
Nhạc sĩ Trần Chung, sinh ngày 1/12/1927 ở thành phố biển Hải Phòng (quê Lý Nhân, Hà Nam), ngay từ nhỏ ông đã yêu ca hát, ông đến với âm nhạc qua con đường tự học. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, chàng thanh niên 18 tuổi Trần Chung hăng hái nhập ngũ. Vốn có giọng ca trong sáng và chữ viết rất đẹp, được điều về làm văn phòng.
Rồi một lần bị ốm nặng được đơn vị cho về gia đình điều trị, khỏi ốm, Trần Chung bị địch phát hiện và bắt giam cùng một ngục thất với ca sĩ Kim Tiêu - con chim sơn ca lừng lẫy một thời tiền chiến. Trong tù, hai chàng ca sĩ suốt ngày hát các bài ca từ lãng mạn đến những bài ca cách mạng... Khi Hải Phòng giải phóng Trần Chung mới được cứu thoát.
Sau đó Trần Chung tham gia phong trào ca hát đoàn "Bồ câu trắng" của thành phố Cảng. Năm 1956, nhân một chuyến về Hải Phòng thực hiện chương trình thu thanh Ca hát quần chúng của đài Tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Hồ Bắc đã phát hiện giọng hát nam cao Trần Chung, ông được chuyển về làm ca sĩ trong dàn nhạc Đài. Là ca sĩ nhưng ông say mê học hỏi sáng tác.
Mùa xuân năm 1957 cùng bạn bè đạp xe sang dự Hội Lim, những âm điệu Quan họ Bắc Ninh đã chinh phục ông ngay từ lần nghe đầu tiên. Nhân đọc bài thơ "Hoa lúa" của nhà thơ nổi tiếng Hữu Loan, ông đã dựa ý bài thơ này, phổ nhạc thành bài hát đầu tay của mình "Cô gái hội Lim". Khi phát trên Đài tiếng nói Việt Nam được đông đảo bạn nghe đài yêu thích, đề nghị phát lại nhiều lần.
Năm 1958 khi các nước Trung Đông vừa đấu tranh giành độc lập thắng lợi, lãnh đạo Đài gợi ý: "Anh em nhạc sĩ hãy sáng tác chào mừng thắng lợi của các nước bạn". Trần Chung có ngay bài "Kỵ binh Irag" sôi động, lạc quan, thấp thoáng tiếng lục lạc lạc đà, tiếng gươm khua đậm đã âm hưởng Trung Đông, dù ông chỉ biết Trung Đông xa xôi qua sách báo, qua bản giao hưởng nổi tiếng Phiên chợ Ba Tư..."