Tên khai sinh của ông là Lê Huy Thục, còn có bút danh khác là Lê Anh Chiến, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1935, quê ở Chính Lý, Lý Nhân, Hà Nam. Là Đại tá, nhạc sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Huân chương Độc lập hạng Ba. Nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khoá III và khoá IV.
Huy Thục hoạt động cách mạng từ tháng 8 năm 1945, ông bắt đầu đi vào con đường âm nhạc từ năm 1950 bằng chơi đàn violon.
Từ năm 1954-1956, ông vào Đoàn Văn công Quân khu Hữu Ngạn. Sau đó ông theo học lớp sáng tác âm nhạc đầu tiên tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Một thời gian sau, ông lại được cử đi tu nghiệp tại Nhạc viện Liszt ở Hongrie.
Về nước ông tham gia giảng dạy ở Trường Nghệ thuật Quân đội. Trong thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông đã lặn lội cùng chiến sĩ trên mặt trận đường 9 Nam Lào. Sau đó ông về làm lãnh đạo và chỉ đạo nghệ thuật Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị.
Ông là một nhạc sĩ có khối lượng sáng tác lớn. Nhiều tác phẩm của ông đã để lại dấu ấn trong quần chúng.
Các tác phẩm chính: Kèn xuất trận (thơ Tô Đức Chiêu), Tiếng hát trên đường quê hương, Dòng suối La La, Tiếng đàn ta-lư, Bác đang cùng chúng cháu hành quân, Tiến lên chiến sĩ đồng bào (phổ thơ Bác Hồ), Đợi (thơ Vũ Quần Phương). Hợp xướng Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Tiến lên giành toàn thắng (chương I); Vũ kịch Xô Viết Nghệ Tĩnh (viết cùng Nguyễn Thành và Lương Ngọc Trác).
Về tác phẩm khí nhạc: Độc tấu đàn bầu Vì Miền Nam, Độc tấu trống dân tộc Nhịp điệu nước non. Ngoài ra ông còn viết phần âm nhạc cho kịch nói, phim truyện, phim tài liệu, múa...
Đã xuất bản hai Tuyển tập ca khúc và album Tiếng đàn ta-lư. Ông đã nhận được Giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1993, 1995), Giải thưởng Bộ Quốc Phòng (1994), Giải thưởng Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (1980).
(Trích “Nhạc sĩ Việt Nam hiện đại” - Hội Nhạc sĩ Việt Nam)